This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

4 thực phẩm “trắng” mà bệnh nhân tiểu đường cần phải bỏ ngay

Đó là 4 loại thực phẩm quen thuộc mà ai ai cũng dùng mỗi ngày, và cũng chính là những tên “khủng bố” đối với sức khỏe con người nếu sử dụng chúng một cách không kiểm soát.

Đường tinh luyện

Carbohydrate là nguồn năng lượng quan trọng nhất được tìm thấy trong hầu hết các loại thực phẩm chúng ta ăn vào. Carbihydrate bao gồm đường đơn Glucose, Fructose…, đường đôi Saccharose và đường đa như tinh bột,…

người tiểu đường nên kiêng đường tinh luyện

Đường tinh luyện ở đây chính là đường trắng là một disacarit (glucose + fructose) có công thức phân tử C12H22O11. Loại đường này cũng có trong các loại thực phẩm tự nhiên như mía, củ cải… Sau khi được tinh chế loại đường này được dùng để chế biến các loại nước ngọt, bánh kẹo…

Cơ thể chúng ta hấp thụ đường vào máu từ các loại thực phẩm ăn vào là khác nhau. Đường trắng trong nước ngọt, bánh kẹo sẽ bắn thẳng vào trong máu, đường trong sữa sẽ đi từng dòng vào trong máu, đường từ tinh bột sẽ chảy từ từ vào trong máu, đường trong trái cây sẽ vào máu theo kiểu nhỏ giọt và đường trong rau củ sẽ thẩm thấu từ từ vào máu. Như vậy, đường vào máu càng chậm, càng tốt, bởi hậu quả của việc tăng đường huyết sẽ dẫn đến nhiều vấn để về sức khỏe, gây ra và làm trầm trọng hơn bệnh tiểu đường và biến chứng của bệnh tiểu đường. Để tiêu hóa được đường tinh luyện cơ thể phải tốn nhiều Calci, Natri, Kali, Magie, Crom lấy từ các bộ phận khác nhau trong cơ thể. Và hậu quả là cơ thể sẽ bị thiếu hụt những vi chất thiết yếu đó.

Dưới đây là một số tác hại của đường tinh luyện:

- Đường gây tăng Glucose trong máu, suy nhược và mệt mỏi.

- Đường làm tăng nguy cơ béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch và ung thư.

- Đường làm suy giảm hệ miễn dịch.

- Đường đẩy nhanh quá trình lão hoá.

- Đường gây sâu răng, làm xấu da.

- Đường ngăn cản hấp thu các chất dinh dưỡng quan trọng.

- Đường gây stress.

Đường rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của con người nhưng đó là đường ở dạng tự nhiên chứa trong rau củ, trái cây chứ không phải là đường tinh luyện.

Muối

Cơ thể chúng ta chỉ cần một lượng nhỏ muối là có thể duy trì một sức khỏe tốt, rất hữu ích cho tế bào thần kinh. Muối ở dạng tự nhiên có chứa trong các loại rau củ như: Hành tây, Khoai tây, Cà chua… là đủ để giúp chúng ta khỏe mạnh.

Trong muối ăn NaCl là hợp chất vô cơ có liên kết ion bền vững khác muối trong rau củ, cho nên cơ thể dễ dàng sử dụng các muối hữu cơ có liên kết cộng hóa trị này.

Việc sử dụng quá nhiều muối sẽ dẫn đến tăng áp lực thẩm thấu trong máu, tăng gánh nặng cho tim và thận, dẫn đến hàng loạt bệnh về huyết áp, tim mạch, thận, xương khớp, ung thư… Đối với bệnh nhân tiểu đường, việc hạn chế muối ăn càng cần thiết hơn bởi những nguy cơ mắc những bệnh trên càng tăng cao hơn.

Lượng muối thích hợp đưa vào trên bệnh nhân tiểu đường thường dưới 5g/ngày, tốt nhất nên sử dụng muối tự nhiên chứa trong rau củ và trái cây. Tránh xa các loại thực phẩm chế biến sẵn như Pizza, thịt hộp, cá muối, snack,… vì chúng chứa rất nhiều muối và các chất phụ gia độc hại khác.

Ngũ cốc tinh chế

Bột mì trắng và gạo trắng là hai loại ngũ cốc tinh chế được dùng phổ biến nhất hiện nay. Đối với lúa mì và lúa gạo thì phần dinh dưỡng chứa nhiều Enzyme, Acid amin, Vitamin, chất xơ nhất lại nằm ở lớp vỏ cám bên ngoài và mầm của nó. Thế nhưng ngũ cốc tinh chế lại được chà sát hết lớp vỏ nâu ấy để tăng vị ngon và tăng thời gian sử dụng. Đặc biệt khi dùng các món ăn được chế biến từ bột mì và gạo trắng làm cơ thể chúng ta bị thiếu hụt Vitamin nhóm B (đó là những loại Vitamin cần thiết cho việc tiêu hóa và chuyển hóa các chất đường bột), chúng ta phải huy động nguồn Vitamin B lấy ra từ các bộ phận khác trong cơ thể và dẫn đến hàng loạt rối loạn như: Kích thích thần kinh, rối loạn tiêu hóa, mỏi cơ, thiếu máu, giảm thị lực, rối loạn nhịp tim, tăng đường huyết…

người tiểu đường nên kiêng ngũ cốc tinh chế

Thay vì sử dụng ngũ cốc tinh chế làm nguồn lương thực chính hãy sử dụng ngũ cốc thô, nguyên cám như: Yến mạch, Gạo lứt… với hàm lượng Vitamin, Amino acid, Enzyme, chất xơ cao sẽ giúp cho bệnh nhân dễ dàng hấp thu chống béo phì và ngăn chặn các bệnh nguy hiểm như tiểu đường, ung thư, tim mạch…

Vấn để đối với bệnh nhân tiểu đường không phải là lượng Carbohydrate đưa vào mà là nguồn Carbohydrate được lấy từ đâu. Những loại ngũ cốc nguyên cám, trái cây, rau củ là nguồn Carbohydrate có ích cho bệnh nhân tiểu đường.

Sữa

Sữa là sản phẩm tự nhiên mà tạo hóa ban tặng cho động vật có vú để nuôi con. Tuy nhiên nó chỉ thật sự tốt cho chính loài đó và trong giai đoạn đầu đời khi trẻ chưa có khả năng hấp thụ các chất khác. Việc con người uống sữa của loài động vật khác là một hình thức phá vỡ quy luật tự nhiên bởi loài người không có những Enzyme tiêu hóa sữa các các loài khác.

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã tìm ra mối liên quan giữa sữa bò và bệnh đái tháo đường type 1. Hệ miễn dịch của con người đã nhận lầm Protein trong sữa bò (Casein) với các tế bào β của cơ thể, và sẽ tấn công các tế bào đó và gây ra bệnh tự miễn và đái tháo đường Type 1. Ngoài ra, sữa nguyên kem còn chứa lượng lớn chất béo, chúng sẽ gây ra béo phì và hàng loạt rối loạn chuyển hóa khác.

Tiến sĩ – Lương Y: Phùng Tuấn Giang (Thọ Xuân Đường)

(Chủ tịch Tổ chức Quốc tế chữa bệnh bằng liệu pháp thiên nhiên tại Việt Nam.)

Ê buốt răng khi ăn đồ ngọt, vì sao?

Nguyễn Thanh Hương (Nam Định)

Ăn đồ ngọt bị buốt răng là biểu hiện của nhiều bệnh lý răng miệng khác nhau. Có thể kể đến những nguyên nhân sau: do sâu răng, do răng bị sứt mẻ, mòn men răng, mắc bệnh viêm nướu. Khi viêm nướu, biểu hiện dễ dàng nhận biết là nướu răng bị sưng đỏ lên. Bởi do cao răng bám lâu ngày không được loại bỏ sẽ tạo cơ hội cho viêm nướu phát triển gây đau nhức cả răng và nướu. Nếu răng bạn bị sứt mẻ do bị lực tác động mạnh hay mòn men thì lúc này răng sẽ cực kỳ nhạy cảm. Mỗi khi kích thích nóng, lạnh, chua, cay, mặn, ngọt thì chắc chắn sẽ dẫn đến cảm giác ê buốt răng. Sâu răng ban đầu chưa có biểu hiện rõ ràng, nhưng khi đồ ăn ngọt bám vào, kích thích sẽ khiến răng đau nhức. Bạn cũng không nên chủ quan nghĩ rằng đánh răng, súc miệng thường xuyên là đảm bảo răng không có vấn đề gì về răng. Nếu bạn thường xuyên đánh răng sai cách hoặc không đi kiểm tra, lấy cao răng định kỳ, bạn vẫn có thể bị sâu răng, viêm nướu, mòn men răng. Qua mô tả của bạn, nhiều khả năng bạn bị tổn thương men răng, ngà răng hoặc sâu răng nhẹ. Để xác định được chính xác nguyên nhân buốt răng khi ăn đồ ngọt, tốt nhất bạn nên đến bệnh viện, phòng khám răng để được thăm khám và điều trị sớm.

BS. Lê Thục

Sau mưa lũ phòng tiêu chảy cấp do Rotavirus

Đặc trưng của bệnh tiêu chảy cấp do rotavirut là trẻ bị tiêu chảy và nôn mửa nhiều lần, trẻ dễ bị mất nước, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được bù nước kịp thời. Vì vậy, việc nhận biết và phòng ngừa bệnh là vô cùng quan trọng.

Bệnh gây tiêu chảy và nôn mửa nhiều lần, mất nước, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Do đó người dân cần phải chú ý thực hiện các biện pháp phòng bệnh, nhất là đối với trẻ nhỏ, đối tượng dễ mắc và dễ diễn biến nặng hơn người lớn. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ từ 3 tháng đến 24 tháng.

Virus Rota dễ lây và tồn tại dai dẳng

Tiêu chảy cấp do virus Rota có khả năng lây lan dữ dội, với đường truyền phổ biến là phân – miệng. Khi trẻ cầm nắm đồ chơi hoặc chạm tay vào các bề mặt có virus rồi đưa tay lên miệng, virus sẽ dễ dàng xâm nhập vào đường tiêu hóa của trẻ và gây bệnh. Virus gây bệnh này có thể sống nhiều giờ trên bàn tay, vài ngày trên các bề mặt rắn và tồn tại đến 21 ngày trong phân.Virus Rota gần như không thể bị tiêu diệt bởi các biện pháp vệ sinh thông thường như xà phòng mà chỉ bị tiệt trừ bởi các dung dịch diệt khuẩn có chứa cồn.

Có nhiều loại rotavirus, vì thế có thể bị lây nhiễm nhiều hơn một lần. Tuy nhiên, những trẻ đã được uống vacxin vẫn có thể mắc nhưng mức độ nhẹ hơn.

Dấu hiệu nhận biết

Thời gian ủ bệnh trung bình từ 2 – 3 ngày. Sau khi nhiễm rota virus khoảng 1 – 2 ngày trẻ có thể xuất hiện các triệu chứng nôn nhiều và tiêu chảy. Thông thường nôn xuất hiện trước tiêu chảy, kéo dài từ khoảng 6 – 7 giờ đến 2 – 3 ngày, nôn giảm khi bắt đầu xuất hiện tiêu chảy. Phân nhiều nước, có thể có nhầy, nhớt nhưng không có máu, tiêu chảy ngày càng tăng sau đó giảm dần sau 3 – 9 ngày. Ngoài ra, bệnh nhân còn có sốt thường sốt không cao quá, đau bụng quặn từng cơn. Vì trẻ vừa nôn và vừa tiêu chảy nhiều lần trong ngày nên cơ thể tdễ bị mất nước và phải nhập viện để điều trị.Nếu không điều trị kịp thời trẻ có thể xuất hiện tình trạng mệt mỏi, li bì, ăn kém, hôn mê, thậm chí tử vong.

Rửa tay là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu

Cần làm gì khi trẻ tiêu chảy do Rota Virus?

Điều trị tiêu chảy cấp do rota virus bằng kháng sinh không hiệu quả. Ở thể nhẹ không có triệu chứng có thể tự khỏi sau 3 – 4 ngày. Việc điều trị chủ yếu là phòng biến chứng: bù nước và điện giải khi trẻ bị mất nước. Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường, có thể dùng nước đun sôi để nguội, nước canh rau, nước khoáng hoặc cho trẻ uống oresol theo hướng dẫn, với trẻ nhỏ uống Oresol từng thìa nhỏ, 1-2 phút/thìa, bù nước 50ml Oresol sau mỗi lần đi ngoài. Trong quá trình điều trị bệnh vẫn phải cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng như bình thường, phù hợp với lứa tuổi, tiếp tục cho trẻ bú mẹ nếu trẻ còn đang bú. Nếu trẻ không thể bù nước bằng đường uống và có biểu hiện mất nước, cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất.

Chú ý, cần cho trẻ ăn uống thức ăn lỏng, mềm, dễ tiêu hóa, cho trẻ ăn từng thìa nhỏ, nếu trẻ bị nôn ói, cho trẻ nghỉ một chút rồi đút lại, chậm hơn.

Tuyệt đối, không dùng thuốc cầm tiêu chảy cho trẻ vì thuốc này làm giảm nhu động ruột làm liệt ruột khiến phân không thải được ra ngoài chứ không có tác dụng diệt virus– nguyên nhân gây tiêu chảy ứ đọng lâu hơn, lâu ngày có thể dẫn đến chướng bụng, tắc ruột, tử vong…

Để phòng bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus cần phòng bệnh chủ động bằng vacxin

Lời khuyên thầy thuốc

Tiêu chảy cấp do Rotavirus lây lan rất nhanh, do đó nếu trẻ bị bệnh nên cho trẻ nghỉ học cho đến khi hết tiêu chảy để tránh lây lan cho các trẻ khác.

Các biện pháp phòng chống dịch tiêu chảy cấp do rota virus: Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe: vệ sinh nguồn nước, ăn uống theo các quy định của vệ sinh an toàn thực phẩm như không ăn các loại thịt sống hoặc chưa nấu chín, rửa sạch rau quả trước khi ăn sống, giáo dục thói quen vệ sinh ăn uống, rửa tay trước khi ăn.

Sau mưa lũ cần lau rửa sàn nhà và các vật dụng, bàn ghế, đồ chơi bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin B, lau rửa sàn toa-lét, bồn cầu sau khi trẻ tiêu chảy đi vệ sinh.

Ngoài ra, cần phòng bệnh chủ động bằng vacxin cho trẻ từ 2 tháng tuổi.

BS Xuân Hoàng

Xuất hiện phương pháp hiệu quả nhất chữa thoái hóa khớp gối

Thoái hóa khớp gối là gì?

Theo các bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp của Bệnh viện Đa khoa An Việt, thoái hóa khớp gối là tình trạng mất cân bằng sinh học và cơ học, từ đó dẫn đến những tổn thương nơi sụn khớp gối và xương dưới sụn. Khi đó, xuất hiện các phản ứng sưng, viêm, giảm thiểu dịch khớp gối. Sụn khớp gối đóng vai trò như lớp đệm che chắn, bảo vệ, giúp giảm chấn động và tránh sự cọ xát giữa hai đầu xương khi khớp cử động.

Khi xảy ra tình trạng thoái hóa khớp gối, sụn khớp bị hao mòn dẫn tới việc không thể che phủ toàn bộ đầu xương dẫn đến tình trạng cọ sát xương đùi và xương chày gây đau đớn cho bệnh nhân.

Những nguyên nhân gây thoái hóa khớp gối

Do chấn thương: Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Các chấn thương như rách dây chằng trước, tổn thương sụn, viêm bao hoạt dịch, viêm gân bánh chè, đau hông hay đau chân có thể dẫn đến thoái hóa khớp gối.

Một số bệnh khớp khác như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp... cũng là nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp.

Những dấu hiệu, triệu chứng của thoái hóa khớp

Bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp của Bệnh viện Đa khoa An Việt cho biết một số triệu chứng của thoái hóa khớp có thể kể đến như:

Đau nhẹ khớp gối thường xuyên, cơn đau tăng dần khi vận động, di chuyển, đau chủ yếu về ban đêm. Khi co duỗi chân nghe có tiếng kêu lục khục, lạo xạo ở đầu gối.

Xuất hiện hiện tượng cứng khớp vào buổi sáng sau khi ngủ dậy. Việc cử động gần như là không thể, phải mất khoảng 10 – 30 phút sau đó mới cảm thấy dễ chịu và di chuyển được.

Khó vận động, đi lại do khớp gối bị cứng và đau. Người bệnh cảm thấy nhấc chân khó, đi tệp tễnh, ngồi xuống đứng lên cũng khó khăn. Việc đứng lên ngồi xuống, lên xuống cầu thang cũng bị đau.Khớp gối bị sưng lên do bị tràn dịch khớp. Tình trạng này sẽ được cải thiện nếu thực hiện chọc hút dịch sẽ làm giảm đau và sưng đầu gối.

Khớp gối bị biến dạng, teo ổ khớp. Đây là biểu hiện khi bệnh thoái hóa khớp gối đã phát triển nặng và sụn bị tổn thương nghiêm trọng. Người bệnh có thể bị lệch đầu gối, rất khó gập hoặc duỗi gối ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng vận động.

Điều trị thoái hóa khớp gối có khó không?

Điều trị thoái hóa khớp gối không phải điều đơn giản. Những phương pháp điều trị cũ thường không có hiệu quả cao và lâu dài. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa An Việt đang áp dụng những phương pháp tiên tiến nhất theo công nghệ Hàn Quốc để điều trị thoái hóa khớp gối là tiêm tế bào gốc và tiêm huyết tương giàu tiểu cầu.

Điều trị thoái hóa khớp gối bằng tiêm tế bào gốc


Tế bào gốc dùng để tiêm trực tiếp vào khớp được thu thập từ chính cơ thể bệnh nhân, loại phổ biến là tế bào gốc trung mô.

Nghĩa là, tế bào gốc lấy từ mô mỡ, máu, tủy xương của bệnh nhân.

-Tế bào gốc mỡ: Phẫu thuật hoặc hút mỡ ở phần bụng

-Tế bào gốc máu ngoại vi: Lấy một mẫu máu từ bệnh nhân sau đó tiến hành tách chiết để thu được loại tế bào gốc này.

-Tế bào gốc tủy xương: Thường được lấy ở tủy xương của vùng xương chậu.

Cách lấy bằng kim hoặc ống tiêm.

Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, việc chiết xuất tế bào gốc còn được lấy từ các bộ phận khác như da, cơ vân. Thường các ca thực hiện sẽ lấy phần mô mỡ và tủy xương vì dễ thực hiện lại ít gây ra tổn thương cho bệnh nhân.

Bệnh viện An Việt điều trị thoái hóa khớp bằng phương pháp tiêm nội khớp tế bào gốc tuân thủ đúng quy trình vô trùng tuyệt đối, bác sĩ thực hiện có kinh nghiệm cao để xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện, kết hợp ăn ý với các bộ phận khác trong ê kip phẫu thuật, đem lại hiệu quả điều trị chữa thoái hóa khớp cho nhiều bệnh nhân.

Quá trình điều trị thoái hóa khớp bằng phương pháp tiêm nội khớp tế bào gốc không chỉ giúp bệnh nhân nhanh chóng khắc phục bệnh mà còn duy trì sức khỏe khớp lâu dài cho bệnh nhân.

Điều trị thoái hóa khớp bằng tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP)

Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân là huyết tương sau khi tách chiết từ một lượng máu của chính bệnh nhân có nồng độ tiểu cầu cao gấp nhiều lần so với trong máu bình thường.

Trong chuyên ngành cơ xương khớp, liệu pháp PRP tự thân được sử dụng để điều trị bệnh thoái hóa khớp gối, chấn thương thể thao, viêm gân và các điểm bám tận, kích thích sự lành vết thương phần mềm cũng như làm nhanh liền xương sau phẫu thuật.

Một số nghiên cứu trong vài năm trở lại đây đã chứng tỏ PRP tự thân tiêm trực tiếp vào trong khớp là một liệu pháp có triển vọng trong điều trị thoái hóa khớp gối với cơ chế là PRP chứa chất chống viêm và các yếu tố tăng trưởng thúc đẩy sự tăng sinh của sụn khớp.

Tóm lại, với tác động vào cơ chế bệnh sinh của bệnh thoái hóa khớp, kỹ thuật tách chiết PRP đơn giản, an toàn do lấy máu tự thân, liệu pháp điều trị PRP đang hứa hẹn là một trong những lựa chọn điều trị tốt cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Nó cho kết quả tốt hơn và lâu dài hơn với điều trị bằng tiêm tại chỗ chất nhờn acid hyalorunic, một liệu pháp điều trị được coi là tiêu chuẩn và đang được sử dụng rộng rãi hiện nay.

Mọi vấn đề cần tư vấn bạn có thể gọi tới 1900 2838 để được tư vấn, đặt lịch khám hoàn toàn miễn phí.

Bệnh viện đa khoa An Việt

Địa chỉ: 1E Trường Chinh, Hà Nội

Hotline: 1900 2838

Website: http://benhvienanviet.com/

Điều trị phẫu thuật bệnh Basedow

Như vậy, về thực chất, điều trị phẫu thuật bệnh Basedow là điều trị triệu chứng. Tuy nhiên, để thực hiện điều này một cách an toàn và ít biến chứng lại là một vấn đề hết sức phức tạp.

Vai trò của điều trị ngoại khoa và chỉ định

Việc điều trị bệnh Basedow bằng phẫu thuật hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng. Càng ngày người ta càng hiểu rõ vai trò, những giới hạn, kết quả của việc điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp và iode đồng vị phóng xạ. Ở Pháp, các bác sĩ chỉ định phẫu thuật cho các trường hợp bệnh nhân sau: trẻ tuổi dưới 40 tuổi, bệnh nhân không thể theo đuổi điều trị nội khoa lâu dài, tốn kém, bệnh nhân vì lý do thẩm mỹ, không dung nạp với thuốc kháng giáp tổng hợp.

Điều trị phẫu thuật bệnh BasedowCác bướu cổ to trọng lượng từ 100 - 400g dù không có triệu chứng chèn ép cũng nên phẫu thuật cho bệnh nhân

Trong một nghiên cứu của chúng tôi có tất cả 26 bệnh nhân được chỉ định mổ vì bướu cổ khá lớn, độ III theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, chiếm 16,1%. Trong đó có 15 bệnh nhân có biểu hiện chèn ép vào một số cơ quan lân cận, trong đó chủ yếu là chèn ép khí quản gây khó thở khi nằm, vào thực quản gây khó nuốt… Các tác giả khác đều đề nghị rằng với các bướu cổ to trọng lượng từ 100 - 400g, dù không có triệu chứng chèn ép cũng nên phẫu thuật cho bệnh nhân. Ở những bệnh nhân này, hội chứng cường giáp đã được điều trị ổn định, nhưng nguyên nhân chính khiến bệnh nhân đến khám bệnh là bướu cổ lớn vẫn còn, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý và giao tiếp xã hội của bệnh nhân.

Ở Mỹ và Canada, khuynh hướng điều trị phổ biến cho bệnh Basedow là dùng iode đồng vị phóng xạ, trong khi các nước châu u lại có khuynh hướng điều trị nội khoa với kháng giáp tổng hợp. Đối với Việt Nam, do hoàn cảnh kinh tế-xã hội nên bệnh nhân khó có thể theo đuổi một phương pháp điều trị nội khoa lâu dài đúng theo phác đồ, việc xây dựng các trung tâm điều trị bằng iode đồng vị phóng xạ còn gặp nhiều khó khăn về phương diện tài chính, điều trị bảo tồn chỉ cho kết quả tốt đối với những trường hợp bệnh mới phát triển. Tỉ lệ tái phát hoặc không khỏi bệnh vẫn còn tương đối cao.

Do đó không nên cố gắng điều trị bảo tồn trong các trường hợp điều trị bằng thuốc không có hiệu quả với những trường hợp này phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị thích hợp và hiệu quả nhất.

Thời gian điều trị nội khoa nên từ 3 - 6 tháng, sau thời gian này nếu bệnh không ổn định hoặc có nguy cơ không khỏi thì vấn đề chỉ định phẫu thuật đặt ra là rất hợp lý. Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, điều trị nội khoa quá kéo dài sẽ có nhiều khó khăn cho người bệnh và cơ sở điều trị, chỉ có một số nhỏ có điều kiện điều trị liên tục từ 1 - 1,5 năm một cách có hệ thống. Các công trình nghiên cứu đều cho thấy là sau một đợt điều trị nội khoa tấn công từ 2 - 3 tháng, nếu các triệu chứng không ổn định thì việc điều trị tiếp tục cũng chỉ khỏi bệnh 50%.

Điều trị phẫu thuật bệnh Basedow

Nhóm những bệnh nhân có khả năng khó khỏi với điều trị nội khoa: những bệnh nhân có biểu hiện cường giáp nặng, phải dùng liều lượng lớn thuốc kháng giáp tổng hợp trên 400mg P.T.U mỗi ngày, bệnh nhân trẻ dưới 20 tuổi, tuyến giáp không nhỏ lại rõ ràng sau thời gian điều trị nội khoa, hàm lượng T3 quá cao, tỉ lệ T3/T4 cao và số lượng tế bào lympho lưu thông trong máu trên 300 tế bào trong một ml. Khi nghiên cứu về kháng thể kháng thyroglobulin và kháng microsome trong bệnh Basedow, một số tác giả thấy: trước khi điều trị, sự hiện diện hay không của tự kháng thể kháng tuyến giáp không cho phép tiên đoán về diễn biến lâm sàng của bệnh, tuy nhiên trên những bệnh nhân có tự kháng thể kháng tuyến giáp trong huyết thanh lúc đầu, nếu sau điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp các tự kháng thể này biến mất thì có thể tiên đoán sự ổn định trên lâm sàng và cận lâm sàng sẽ rõ rệt và đầy đủ. Sự hiện diện kéo dài của tự kháng thể kháng Microsome trong máu sau khi điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp có liên hệ đến diễn tiến không tốt trên lâm sàng.

Phần lớn các bệnh nhân của chúng tôi chiếm tỉ lệ 51,3%, đều được mổ để tránh tái phát. Tuy điều trị nội khoa đã đạt kết quả tốt cho bệnh nhân, nhưng cũng nên điều trị ngoại khoa tiếp tục nhằm tránh nguy cơ tái phát, nếu bệnh nhân đã tái phát đến lần thứ hai thì nên điều trị bằng phẫu thuật.

Điều trị bằng phẫu thuật vẫn là một phương pháp cơ bản, chắc chắn, có hiệu quả và ít để lại di chứng nhất.

Theo tác giả nội khoa - nội tiết thì kết quả điều trị nội khoa chỉ đạt từ 60 - 70%. Có 30 - 40% bị tái phát sau khi ngưng điều trị vài tháng. Nguyên nhân thường do thời gian điều trị quá ngắn hoặc không liên tục. Trong điều trị nội khoa những yếu tố cho phép dự đoán tiến triển tốt:

- Khối lượng tuyến giáp nhỏ đi.

- Liều thuốc kháng giáp tổng hợp duy trì cần thiết chỉ còn rất nhỏ: dưới 50mg Thiouracil, hoặc dưới 5mg Imidazole.

- Nghiệm pháp Werner âm tính trở lại.

- Trong huyết thanh không còn TSI.

- Ngoài ra người ta còn cho rằng việc định lượng T3 và T4 tự do theo phương pháp RIA là những xét nghiệm có giá trị nhất trong quá trình theo dõi điều trị.

Khi tiến hành mổ, cần phải chú ý: chỉ nên phẫu thuật cho những bệnh nhân Basedow trong giai đoạn ổn định:

- Mạch trở lại bình thường: 70 - 80 lần/phút.

- Chuyển hóa cơ bản giảm xuống tới mức độ tương đối bình thường: 15%.

- Basedow đã có cơn độc giáp trạng cần được mổ sớm sau khi đã điều trị ổn định biến chứng này.

- Chỉ định mổ khi điều trị nội khoa bảo tồn không có kết quả bao gồm cả những trường hợp Basedow có bướu giáp lớn gây chèn ép khí quản, Basedow đã có những biến đổi rõ rệt trong hệ thống tim mạch, bướu giáp không nhỏ đi sau khi điều trị bảo tồn một thời gian dài.

- Khi các dấu hiệu rối loạn thần kinh biểu hiện ra rõ rệt.

- Khi đã có những biến đổi trong hệ thống tim mạch: cần dè dặt trong khi chỉ định phẫu thuật cho những bệnh nhân đã có biến chứng tim mạch nặng. Tuy nhiên trong một số trường hợp sau khi mổ, các dấu hiệu về hệ thống tim mạch đã giảm rõ rệt hoặc biến mất dần.

- Tùy theo lứa tuổi: không phải là một chống chỉ định phẫu thuật trong bệnh Basedow.

- Đôi khi chỉ định mổ vì lý do phục hồi thẩm mỹ cho người bệnh, nhất là bệnh nhân nữ còn trẻ tuổi. Đây là một chỉ định mới cần phải cân nhắc khi áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.

Các bác sĩ tại Bệnh viện Bình Dân đã nêu ra một số chỉ định phẫu thuật sau:

- Bệnh Basedow đã điều trị nội khoa thất bại, tuy nhiên tác giả không nêu cụ thể về định nghĩa thế nào là điều trị nội khoa thất bại và các tiêu chuẩn của chỉ định này.

- Một số bệnh nhân tuy chưa điều trị nội vẫn có thể điều trị ngoại khoa với việc chuẩn bị phẫu thuật bằng Propranolol. Chỉ định này chỉ nên áp dụng cho một số trường hợp bệnh nhân đang bị bệnh Basedow phải điều trị một bệnh ngoại khoa khác đi kèm như: sỏi niệu quản, mổ viêm ruột thừa cấp…

Các tai biến và biến chứng của cuộc mổ

Chảy máu trong và sau khi mổ:

Đây là biến chứng hay gặp nhất, có tỉ lệ từ 1 - 2% tùy theo tác giả. Nguyên nhân thường là bướu giáp quá lớn, dính nhiều, việc chuẩn bị tiền phẫu không kỹ, không sử dụng dung dịch Lugol trước mổ. Vấn đề vô cảm không tốt hoặc do phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm trong việc phẫu tích và xử lý mạch máu đến tuyến giáp.

Tuy nhiên, chảy máu là biến chứng lành tính, hầu như không có tử vong chỉ cần theo dõi kỹ trong và sau mổ. Có trường hợp phải truyền máu hoặc mổ lại để cầm máu.

Vọp bẻ do hạ canxi máu:

Là biến chứng cũng thường hay gặp ở cả Việt Nam lẫn ngoại quốc, tỉ lệ dao động từ 2,7 - 8,5%. Nguyên nhân do làm tổn thương tuyến cận giáp trạng trong lúc mổ. Tuyến cận giáp trạng là một tuyến nội tiết có nhiệm vụ điều hoà lượng canxi trong máu, có tất cả 4 tuyến cận giáp rất nhỏ chỉ bằng hạt đậu xanh rất dễ tổn thương trong phẫu thuật cắt gần hoàn toàn hay hoàn toàn bướu giáp.

Triệu chứng thường thấy: sau mổ 2 - 3 ngày bệnh nhân thấy tê chân tay, mệt mỏi nhiều, thần kinh dễ bị kích thích, lo lắng… nặng hơn sẽ thấy dấu hiệu đau bắp chân như vọp bẻ, bàn tay co quắp, các ngón tay rút lại theo kiểu bàn tay của người đỡ đẻ. Bệnh đáp ứng tốt với điều trị bằng canxi, chỉ cần một liều thuốc canxi thường là canxi bronat tiêm tĩnh mạch là các triệu chứng hết ngay. Tuy nhiên triệu chứng có thể lặp đi lặp lại nhiều lần, một thời gian có thể khỏi nhưng nhiều bệnh nhân bị hạ canxi máu vĩnh viễn.

Việc điều trị bằng cách ghép tuyến cận giáp trạng thường không mang lại hiệu quả. Chủ yếu là dùng canxi, lúc đầu là dạng tiêm tĩnh mạch, sau đo có thể thay thế bằng thuốc uống.

Hạ canxi máu có thể còn do hiện tượng chèn ép mạch máu, phù nề sau mổ của tuyến cận giáp. Với những trường hợp này, tiên lượng thường rất tốt. Bệnh sẽ khỏi sau một thời gian điều trị. Tuy nhiên biến chứng này ít gặp trong phẫu thuật bệnh Basedow hơn trong trường hợp mổ cho các bệnh nhân bị bướu giáp đa nhân nhiễm độc.

Khàn tiếng hay tiếng nói nhỏ sau mổ:

Chiếm tỉ lệ 0,5%, rất thấp tuy nhiên lại là mối lo âu hàng đầu của người bệnh nhất là những bệnh nhân phụ nữ, trẻ tuổi. Nguyên nhân do làm tổn thương dây thần kinh quặt ngược hay dây thần kinh thanh quản trên. Biến chứng hay gặp trong những trường hợp bướu giáp lớn, chảy máu nhiều trong phẫu thuật, hay những trường hợp quanh bướu có hiện tượng viêm dính nhiều, đặc biệt là ở những bệnh nhân đã điều trị không đúng phương pháp bằng cách đốt, chích, lể trên bướu.

Ngày nay với trình độ tay nghề cao của phẫu thuật viên cùng những cải tiến về kỹ thuật mổ, biến chứng này rất ít xảy ra. Việc khàn tiếng cũng có thể là tạm thời nhưng cũng có thể là vĩnh viễn.

Cơn bão giáp trạng:

Đây là một biến chứng nặng, có thể đưa đến tử vong. Nguyên nhân do công tác chuẩn bị phẫu thuật chưa tốt, bệnh nhân được mổ trong tình trạng chưa bình giáp hoàn toàn. Sau mổ, bệnh nhân sốt cao 40 - 410C, rối loạn tâm thần, kích động, mạch rất nhanh có khi lên đến 160 - 170 l/P… nếu không phát hiện và xử trí kịp thời có thể đưa đến tử vong.

Việc điều trị những trường hợp này hiện đã khá hữu hiệu vì có thuốc và phương pháp điều trị tối ưu. Vấn đề cơ bản là phát hiện và xử trí kịp thời. Hiện nay với những phương pháp đánh giá bệnh nhân hữu hiệu, chuẩn bị phẫu thuật tốt, biến chứng này hầu như không thấy xảy ra nữa.

Trước khi quyết định phẫu thuật nên điều trị nội khoa cho bệnh nhân. Thời gian điều trị nội khoa trước phẫu thuật chỉ nên kéo dài không quá 6 tháng.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Cần làm những xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nào?

1. Công thức máu:

Đây là 1 xét nghiệm thường quy, cung cấp cho chúng ta nhiều giá trị trong các bệnh lý thường gặp như bệnh nhiễm trùng, ung thư máu…và đặc biệt là xem có tình trạng thiếu máu hay không. Căn bệnh thiếu máu thường gặp ở Việt Nam, nguyên nhân thường gặp là do ký sinh trùng. Thiếu máu làm cho chúng ta có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, mau mệt, giảm khả năng tập trung và ảnh hưởng đến năng suất làm việc. Việc phát hiện và điều trị sớm giúp cho bệnh nhân mau hồi phục sức khỏe.

2. Đường huyết:

Bệnh đái tháo đường được xếp vào loại bệnh rối loạn chuyển hóa, khi nền kinh tế phát triển thì tĩ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong cộng đồng cũng tăng theo. Trong giai đoạn sớm của bệnh, thường không có triệu chứng. Việc phát hiện sớm giúp ích rất nhiều trong việc điều trị nhằm ngăn ngừa những biến chứng nguy hiểm của bệnh như: tổn thương mắt, thận, tim mạch và hệ thần kinh.

3. Cholesterol:

Hiệp hội Tim mạch quốc tế cho rằng tất cả những người trên 20 tuổi nên kiểm tra cholesterol trong máu, vì nồng độ choloesterol tăng cao là tăng nguy cơ phát triển bệnh tim mạch, vì vậy việc kiểm tra và điều trị kịp thời sẽ hạn chế tối đa nguy cơ bệnh tim mạch.

4. Chức năng gan:

Gan đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể, như là chức năng lọc máu, bài tiết mật, chuyển hóa các chất lipid, protein, carbonhydrat, dự trữ vitamin và muối khoáng…, và khi nền kinh tế phát triển, con người phải giao tiếp và làm việc nhiều dễ phát sinh những bệnh lý gan thường gặp như: viêm gan do siêu vi, viêm gan do rượu bia, viêm gan do ký sinh trùng, gan nhiễm mỡ... Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ hạn chế những nguy hiểm của những biến chứng như: xơ gan, ung thu gan….

5. Chức năng thận:

Những bệnh lý về thận ở giai đoạn sớm không có triệu chứng, và đặc biệt trong bệnh cao huyết áp lâu ngày không được điều trị triệt để sẽ có ảnh hưởng lên thận. Việc khám và phát hiện sớm chức năng thận giúp cho chúng ta kiểm soát, ngăn ngừa bệnh một cách hiệu quả hơn.

6. Viêm gan siêu vi:

Việt Nam là 1 nước trong vùng có tỉ lệ nhiễm bệnh viêm gan cao, theo như Hội Gan mật Việt Nam, tỉ lệ lưu hành siêu vi B trong cộng đồng khoảng 10 - 15%. Viêm gan siêu vi B có thể đưa đến biến chứng như là ung thư gan và xơ gan rất cao. Tuy nhiên rất may mắn cho chúng ta đã có thuốc chủng ngừa bệnh viêm gan siêu vi B, và thuốc điều trị bệnh rất hiệu quả.

Với viêm gan siêu vi C tuy chưa có thuốc chích ngừa, nhưng việc điều trị với thuốc tăng cường hệ miễn dịch cho hiệu quả khá tốt.

Vì vậy, việc xét nghiệm này giúp chúng ta ngăn ngừa bệnh bằng cách chích ngừa cho những ai không mắc bệnh và theo dõi điều trị cho những ai bị mắc bệnh.

7. Chụp X-quang phổi:

Lao phổi và những bệnh lý tắc nghẽn phổi mãn tính do hút thuốc lá và bụi công nghiệp là những bệnh lý thường gặp ở nước ta. Việc thăm khám bệnh và chụp hình phổi là những biện pháp đơn giản dễ thực hiện nhằm giúp cho chúng ta phát hiện sớm ngăn ngừa hậu quả của nó.

Cần làm những xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nào?Chụp X-quang phổi

8. Paps mear:

Ung thư cổ tử cung là một bệnh lý rất nguy hiểm, đứng hàng thứ nhất trong ung thư đường sinh dục nữ. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ hạn chế tỉ lệ tử vong và thương tật. Theo hiệp hội ung thư Mỹ khuyến cáo nên làm paps mear thường quy nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời căn bệnh nguy hiểm này.

Cần làm những xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nào?Paps mear

9. Siêu âm bụng:

Là một phương pháp đơn giản, rất kinh tế nhằm phát hiện những thay đổi bất thường trong ổ bụng, như là bệnh lý gan mật, thận, lách, tụy… là 1 phương pháp mang tính chất tầm soát rất hữu hiệu.

10. Đo điện tim:

Nhằm phát hiện những thay đổi bất thường ở tim do các bệnh lý tim mạch gây nên, có những trường hợp cao huyết áp mà bệnh nhân không phát hiện (như là không đo huyết áp kiểm tra, không khám sức khỏe định kỳ…) lâu ngày ảnh hưởng tới tim mạch. Vì vậy, việc đo điện tim nhằm giúp cho chúng ta phát hiện bệnh cao huyết áp cũng như biến chứng của các bệnh tim mạch.

11. Siêu âm tuyến vú:

Ngoài việc khám phụ khoa và paps mear để phát hiện sớm bệnh ung thu cổ tử cung, ở phụ nữ cũng nên làm thêm siêu âm ngực kiểm tra nhằm phát hiện sớm những thay đổi cấu trúc, những bất thường ở ngực để phòng bệnh và điều trị kịp thời bệnh ung thư vú.

Cần làm những xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nào?Siêu âm bụng

12. Siêu âm màu tim:

Hiện nay siêu âm màu tim là xét nghiệm thường quy đối với tất cả bệnh nhân khi đia khám kiểm tra sức khỏe định kỳ hay nhập bệnh viện để phẫu thuật… Siêu âm Doppler màu giúp đánh giá chính xác hoạt động của cơ tim, các buồng tim và các van tim như van hai lá, van ba lá, van động mạch chủ. Phân suất tống máu của tim nhằm ước lượng tình trạng suy tim, xem khả năng bệnh nhân có chịu đựng được cuộc phẫu thuật hay không về phương diện tim mạch.

Các xét nghiệm, chẩn đoán sẽ được bác sĩ chỉ định tùy theo đối tượng cụ thể. Ngoài ra còn có các xét nghiệm, chẩn đoán chuyên sâu hơn cũng do bác sĩ cân nhắc chỉ định.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Vì sao phải nghỉ ngơi khi viêm tinh hoàn sau quai bị?

Bác sĩ khám thấy bìu bên phải em bị sưng, nóng, đỏ, đau, sờ săn chắc, không có mủ. Bác sĩ thấy H lo lắng, nhất là mẹ bé hỏi bác sĩ không biết sau này bé có con không? Bác sĩ trấn an gia đình bé H: Bé bị viêm tinh hoàn chỉ có một bên, lại vào bệnh viện theo dõi và điều trị sớm như vậy sẽ khỏi sau một tuần và rất hiếm khi vô sinh sau này. Điều quan trọng là cháu phải nghỉ ngơi trên giường, hạn chế đi lại sẽ giúp bệnh ít biến chứng nặng và mau khỏi.

Về chuyên môn, khi người bệnh hoạt động nhiều, cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng khiến cho sức đề kháng của cơ thể giảm, lúc đó thì virút dễ dàng từ nơi xuất phát gần như tuyến nước bọt sẽ lan ra xa đến cơ quan đích khác như tinh hoàn, tụy tạng. Khi virút quai bị đến tinh hoàn, nó sẽ tấn công vào tế bào sinh tinh trong ống sinh tinh, khiến cho ống sinh tinh bị phù nề, hư hủy và cuối cùng xơ hóa. Mỗi tinh hoàn chỉ có từ 400 - 600 ống sinh tinh làm vốn cho cả đời người đàn ông, hàng ngày sản xuất từ 50 - 150 triệu tinh trùng. Nếu tất cả ống sinh tinh đều xơ hóa thì người bệnh chắc chắn là bị vô sinh, thường tỉ lệ này rất hiếm, chỉ khoảng 5/1.000 ca viêm tinh hoàn mà thôi. Ngoài ra, khi tinh hoàn bị sưng sẽ rất dễ bị chấn thương khi va chạm nhẹ như đi lại nhiều, ngồi ép trên yên xe…

Nguy hiểm nhất là tổn thương hàng rào máu - tinh hoàn, hàng rào này ngăn cách không để máu tiếp xúc trực tiếp với tinh trùng. Khi hàng rào này bị vỡ, tinh trùng tiếp xúc trực tiếp với máu có thể kích hoạt hệ thống kháng thể để tạo ra kháng thể chống tinh trùng trong máu. Như vậy, bao nhiêu tinh trùng sản xuất ra đều bị cơ thể tự tiêu diệt, là một trong những nguyên nhân gây vô sinh ở đàn ông.

Để hạn chế biến chứng viêm tinh hoàn và không làm tình trạng biến chứng thêm trầm trọng, bà con mình cần chú ý cho người bệnh được nằm nghỉ tại giường hoàn toàn khi còn sưng đau, mặc quần lót để treo tinh hoàn, giảm chấn thương do rung lắc lúc di chuyển; giảm đau bằng cách uống thuốc theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

BS NGUYỄN THÀNH ÚC